e. Lĩnh vực bảo vệ môi trường
Đã nghiên cứu ứng dụng nhóm vi khuẩn Ana mmox trong xử lý nước thải có nồng độ ammonium cao với mô hình 100lit/ngày(áp dụng tại XN Lợn giống Đông Á, các cơ sở sản xuất nước tương); tạo chế phẩm vi sinh dạng viên nén xử lý ao nuôi cá tra qui mô công nghiệp đã được trại nuôi cá tra sử dụng thử nghiệm và đánh giá chất lượng không kém sản phẩm Ecotab (Thái Lan); dùng vi nấm xử lý một số hợp chất hữu cơ khó phân hủy sinh học trong nước rỉ rác (áp dụng tại BCL Gò Cát, Hiệp Phước); xử lý nước thải nuôi tôm công nghiệp bằng tảo Tetraselmis và sò huyết (áp dụng tại hộ nuôi tôm Nhà Bè, Cần Giờ)
2.2.3. Các dự án sản xuất thử nghiệm đã và đang triển khai
Các dự án sản xuất thử nghiệm trong lĩnh vực CNSH tạo ra nhiều sản phẩm ứng dụng có khả năng thương mại hoá cao:
a. Lĩnh vực Y dược
- Hoàn thiện và phát triển các bộ kit sinh học phân tử chẩn đoán các bệnh do HBV (Hepatitis B Virus), HCV (Hepatitis C Virus) và HPV (Human Papillomavirus) ở người, triển khai ứng dụng và sản xuất thử nghiệm khoảng 15.000 phản ứng tại Cty TNHH CNSH Khoa Thương và kiểm tra tại BV ĐH Y Dược, DIAG Center (HBV, HCV), BV Hùng Vương, BV Ung Bướu (HPV);
- Sản xuất thử 24 tấn dầu Mù u theo tiêu chuẩn Organic quốc tế (tiêu chuẩn an toàn MSDS và tiêu chuẩn chất lượng TDS), được thẩm định và cấp Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn Organic quốc tế bởi tổ chức IMO (Thụy Sĩ) để xuất khẩu sang châu Âu, Mỹ, Nhật…
b. Lĩnh vực Nông nghiệp
- Triển khai 02 dự án sản xuất thử nghiệm về hoa lan: “Triển khai quy trình nhân nhanh các giống lan Mokara, Renanthera và Phaleanopsis bằng phương pháp ngập chìm tạm thời” và dự án Xây dựng mô hình sản xuất hoa cắt cành và nhân giống hoa lan Mokara” đã góp phần tích cực và hiệu quả vào chương trình phát triển hoa cây kiểng của thành phố (Trung tâm CNSH TP.HCM).
- Sản xuất thử 16 tấn nấm Hầu thủ tươi (giống chịu nhiệt), lãi trên giá thành là 30% và lãi trên giá bán là 23% trong một chu kỳ sản xuất. Đã cung cấp 650kg nấm Hầu thủ khô cho Trung tâm bảo tồn dược liệu Đồng Tháp Mười (Imexpharm), Công ty Domesco để sản xuất viên thực phẩm dinh dưỡng Hầu thủ; đã xuất khẩu sơ bộ qua Mỹ (Công ty Teaco) 200kg nấm khô;
- Hoàn thiện quy trình nhân giống và cung cấp cây giống Dâu tây (Fragaria vesca L.) đuợc triển khai trong khuôn khổ hợp tác giữa Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lâm Đồng và thành phố Hồ Chí Minh. Dự án đã cung cấp cho thi trường 299.600 cây giống dâu tây sạch bệnh, với giá bán dao động từ 2.500-3.000 đồng/cây, thu được 749.000.000 triệu đồng.Năng suất trung bình cho 1 sào (1000 m2) canh tác tại đà lạt là 4800kg/năm. Với giá bán hiện tại là 50.000 đồng/kg. Lợi nhuận có thể thu nhập đến 240 triệu/năm, chưa trừ chi phí. Dự đã cung cấp một số lượng lớn giống Dâu Tây sạch bệnh, bước đầu mang lại những tín hiệu tốt cho bà con nông dân sau một thời gian không có biện pháp nào khắc phục cụ thể về bệnh virus trên Dâu Tây. Dự án có ý nghĩa rất lớn trong công tác cải tạo giống.
- Xây dựng dây chuyền sản xuất các chế phẩm có dẫn xuất salicylic acid phòng trừ bệnh cho lúa và rau màu với quy mô 15-20 tấn/năm;
- Đang sản xuất thử nghiệm loài nấm Hypsizygus marmoreus (Bunashimeji) qui mô 10kg/ngày. Dự án đã cung cấp cho thị trường khoảng 2000kg với giá trung bình khoảng 70.000 đồng/kg.
c Lĩnh vực Công nghiệp thực phẩm
- Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất maltodextrin từ tinh bột sắn; bán ra thị trường 15 tấn xi-rô glucose, 10 tấn maltodextrin dạng dịch DE 10-12 và 10 tấn maltodextrin dạng bột DE 15-17; ứng dụng maltodextrin dạng dịch trong sản xuất bia đen và dạng bột trong sản xuất xúc xích, bột trái cây và trà hoà tan, cụ thể liên kết với Cty Thanh Thanh Phát sản xuất và bán ra thị trường trên 10 tấn bột chanh dây và bột trái cây các loại; sản xuất và thử nghiệm sử dụng xi-rô glucose trong một số sản phẩm như rượu vang, nước yến.
- Hoàn thiện công thức và công nghệ sản xuất quy mô nhỏ sản phẩm sirô sử dụng dịch chiết xuất tảo Spirulina với sản lượng khoảng 120.000 chai dùng cải thiện tình trạng sinh dưỡng trên đối tượng bệnh nhi suy dinh dưỡng và một số đối tượng khác;
+ Hoàn thiện quy trình sản xuất thịt heo an toàn theo các mô hình phù hợp với địa bàn TP.HCM (HTX chăn nuôi heo an toàn; giết mổ an toàn; vận chuyển thịt heo an toàn; bán buôn, bán lẻ thịt heo an toàn). Dự kiến sản xuất được hơn 1.200 tấn thịt heo an toàn…
2.3. Một số kết quả triển khai công tác nghiên cứu ứng dụng của Trung Tâm CNSH TP.HCM
Giai đoạn 2006- 2010, do Trung tâm CNSH TP.HCM mới thành lập nên cơ sở vật chất kỹ thuật, máy móc, thiết bị phục vụ công tác nghiên cứu còn thiếu thốn, hạn chế. Tuy nhiên, Trung tâm đã cố gắng triển khai đồng bộ nhiều đề tài nghiên cứu có tính ứng dụng cao phục vụ các Chương trình trọng điểm của thành phố và khu vực (hoa, cây kiểng; rau an toàn; nuôi trồng thủy sản: tôm, cá tra.. ). Trung tâm đã triển khai 30 đề tài nghiên cứu khoa học các lĩnh vực: cây trồng, thuỷ sản và y dược, trong đó có 01 đề tài cấp Bộ, 05 đề tài cấp Thành phố.
2.3.1. Lĩnh vực nông nghiệp
Trong lĩnh vực nông nghiệp, tập trung cho lĩnh vực hoa, cây kiểng, trong đó có một số kết quả tiêu biểu như sau:
- Triển khai Dự án: “Sưu tập, nhập nội, khảo nghiệm và nhân giống các giống hoa lan” để phục vụ Chương trình phát triển hoa, cây kiểng của Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010.
+ Đã sưu tập được hơn 300 giống hoa lan thuộc 12 nhóm giống khác nhau (Mokara; Dendrobium, Phalaenopsis, Oncidium…) để phục vụ cho công tác sưu tập nguồn gen và lai tạo giống. Đặc biệt đã sưu tập và định danh được trên 100 giống lan rừng quý của Việt Nam phục vụ công tác lai tạo giống.
+ Đã hòan thiện quy trình nhân giống cho 7 nhóm hoa lan, tiến hành nhân giống và cung cấp cho sản xuất hơn 450.000 cây giống hoa lan cấy mô các loại.
+ Bước đầu đã đi vào ứng dụng CNSH trong công tác lai tạo giống hoa lan: đến nay đã thực hiện thành công và vô mẫu hạt của 136 tổ hợp lai, trong đó có 28 tổ hợp lai đã nảy mầm và 15 tổ hợp lai có cây ra vườn ươm.
- Lần đầu tiên trong cả nước, đã nghiên cứu ứng dụng “ Hệ thống ngập chìm tạm thời ( TIS ) trong nhân giống cấy mô thực vật ”. Hệ thống này cho phép tăng số lượng cây con nhân ra (tốc độ nhân nhanh 10 lần ở giai đọan nhân cụm chồi so với phương pháp nuôi trong môi trường thạch) và rút ngắn thời gian nhân giống từ 2 - 4 tuần lễ. Cây giống lan cấy mô từ hệ thống này có tỷ lệ sống cao: trên 95%. Công trình nghiên cứu này được Giải khuyến khích VIFOTEC năm 2008. Trung tâm cũng đã chuyển giao công nghệ này cho một số đơn vị ở Đồng Tháp, Bình Thuận, Bình Định.
- Đã nghiên cứu thành công bộ Kit PCR phát hiện bệnh virus trên hoa lan. Công trình nghiên cứu đoạt giải Ba – Hội thi sáng tạo kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh năm 2010.
- Nghiên cứu sản xuất các chế phẩm sinh học:
+ Đã nghiên cứu và sản xuất chế phẩm sinh học BIMA (có chứa nấm đối kháng Trichoderma) phục vụ cho ủ phân chuồng, sản xuất phân bón hữu cơ sinh học, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi heo, bò sữa cũng như phòng trị bệnh cây trồng.
+ Nghiên cứu thành công quy trình thuỷ phân trùn quế làm phân bón lá hữu cơ sinh học phục vụ cho chương trình hoa kiểng và sản xuất rau an toàn theo hướng hữu cơ sinh học.
b. Lĩnh vực thuỷ sản
Hiện nay, Trung tâm CNSH TP.HCM đang tập trung nghiên cứu về dịch bệnh trên tôm sú, cá tra - là những sản phẩm chủ lực phục vụ xuất khẩu của khu vực Đồng Bằng sông Cửu long.
- Đã nghiên cứu thành công và đưa vào sản xuất các bộ Kít PCR phát hiện 4 loại bệnh trên tôm ( đốm trắng, hoại tử vỏ, còi, viêm gan tụy). Bộ Kit này giúp các đơn vị quản lý dịch bệnh trên tôm phân tích mẫu bệnh nhanh với giá thành rẻ bằng 50% so với bộ kit ngoại nhập.
- Đã nghiên phát triển bộ kit LAMP phát hiện bệnh đốm trắng trên tôm.- đây là một kỹ thuật mới, có ưu điểm là dễ sử dụng và không đòi hỏi trang thiết bị đắt tiền. Công trình nghiên cứu này đạt giải Ba – Hội thi sáng tạo kỹ thuật TP. HCM năm 2010.
- Đang tập trung nghiên cứu các loại vacxin ngừa bệnh gan thận mủ trên cá tra ( công nghệ tái tổ hợp gen, gây đột biến .. ) và tiến hành thử nghiệm hiệu lực vacxin tại các trại cá giống ở An Giang, Vĩnh Long với kết quả bước đầu đáng khích lệ.
c. Các lĩnh vực khác
- Công nghệ tế bào động vật: đã tiến hành đề tài “Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật trợ giúp thoát màng trên phôi bò nhằm tăng khả năng đậu thai của bò sữa”. Kết quả đã hoàn thiện quy trình tạo phôi bò bằng phương pháp thụ tinh in vitro. Tỷ lệ trứng thụ tinh tạo phôi thành công là 41%, với khoảng 15% phôi phát triển tới giai đoạn blastocyst và 40% blastocyst thoát màng tự nhiên.
- Công nghệ sinh học Y dược: đã nghiên cứu thành công : Tạo dòng và biểu hiện gene mã hoá cho Insulin và Interferon (IFN) alpha 2b của người trên hệ thống tế bào nấm men Pichia pastoris”; hiện nay đang tiến hành Xây dựng quy trình sản xuất thử nghiệm Interferon alpha 2b.
2.4. Tình hình đầu tư các dự án sản xuất và nghiên cứu triển khai trong lĩnh vực CNSH tại Khu Công nghệ cao TP.HCM
2.4.1. Các dự án nghiên cứu, sản xuất CNSH đã đầu tư
Đến tháng 11/2011, Khu Công nghệ cao TP.HCM (Khu CNC TP.HCM) đã có 05 công ty hoạt động trong lĩnh vực CNSH, chủ yếu là y sinh, dược phẩm. Tổng số vốn đăng ký đầu tư là 25,5 triệu USD, tuy nhiên đến năm 2011 chỉ mới triển khai thực hiện khoảng 40 % số vốn đăng ký.
Đặc điểm chính của các dự án đầu tư và các sản phẩm tại Khu CNC TP.HCM như sau:
- Công ty TNHH Sinh học dược Nanogen: vốn đăng ký 5 triệu USD, số lao động 120, trong đó trên 60% trình độ đại học; 30% kinh phí hoạt động được dành cho các hoạt động R&D; sản phẩm đã sản xuất bao gồm thuốc điều trị viêm gan (Pegnano), Feronsure (Interferon), Nanokine, Fibricine.
- Công ty Nam Khoa: vốn đăng ký 1,56 triệu USD, số lao động 20; các hoạt động R&D tập trung ứng dụng, sản xuất các bộ kit chẩn đoán PCR, RT-PCR, ELISA...
- Công ty Bioland Nam Khoa: vốn đăng ký 1 triệu USD; lĩnh vực đầu tư là CNSH phục vụ nông nghiệp, y - dược và môi trường (đang xây nhà xưởng).
- Công ty CTCBIO: vốn đăng ký 7 triệu USD; sản xuất các chất chẩn đoán bằng kỹ thuật sinh học phân tử và công nghệ nano (đang xây nhà xưởng).
- Công ty Geneworld (trước là Mamprotech): vốn đăng ký 11 triệu USD; nghiên cứu, sản xuất và kinh doanh các sản phẩm y sinh, thực phẩm chức năng từ công nghệ tế bào và tế bào gốc (đang xây nhà xưởng).
2.4.2. Các nghiên cứu về CNSH đang tiến hành
- Phòng nghiên cưú triển khai CNSH của Trung tâm Nghiên cứu triển khai thuộc Khu CNC TP.HCM mới được thành lập và hoạt động từ tháng 3/2011, hiện đang trong giai đoạn đầu tư trang thiết bị và đào tạo nguồn nhân lực; đang triển khai đề tài “Nghiên cứu chế tạo bộ kit ELISA phát hiện nhanh melamine trong thực phẩm” từ nguồn kinh phí của Sở KH&CN TP.HCM.
- Công ty Nanogen được được Bộ KH&CN tài trợ dự án nghiên cứu sản xuất thuốc điều trị viêm gan với kinh phí 5 tỷ đồng.
- Cty Geneworld: chuẩn bị triển khai kế hoạch nghiên cứu phát triển một số sản phẩm bổ trợ sức khỏe sinh học, điều trị bệnh từ tế bào gốc.
2.5. Tình hình ứng dụng và đầu tư các dự án sản xuất và nghiên cứu triển khai trong lĩnh vực CNSH tại Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM
2.5.1. Tình hình đầu tư
Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM(Khu NNCNC TP.HCM) có 56,53 ha dành cho các nhà đầu tư. Đến nay 100% diện tích này đã được đăng ký đầu tư trong đó 11 dự án (chiếm 46,61 ha) đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư và 03 dự án đang được thẩm định. Tổng giá trị đầu tư là trên 452 tỷ đồng, suất đầu tư bình quân > 8 tỷ đồng/ha.
2.5.2. Tình hình nghiên cứu triển khai và sản xuất
Trong Khu NNCNC TP.HCM có các đơn vị sự nghiệp thuộc Ban Quản lý và các doanh nghiệp, là những nhà đầu tư vào Khu. Tất cả các đơn vị đều tập trung nghiên cứu – thực nghiệm – trình diễn trên cơ sở ứng dụng những công nghệ, trong đó, ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp bao gồm: nhân giống in vitro cây hoa lan, cây chuối và các cây loại trồng khác; nhân giống cây con trong nhà màng; sản xuất hạt giống trong nhà màng, trồng trên giá thể, tưới bón theo hệ thống nhỏ giọt và sản xuất hạt giống ngoài đồng ruộng, phủ màng PE, tưới bón theo hệ thống nhỏ giọt; ứng dụng sinh học phân tử trong giám định bệnh hại cây trồng; ứng dụng sinh học công nghệ sinh học trong sản xuất các chế phẩm sinh học: phân bón lá sinh học, chế phẩm Trichoderma, vi khuẩn cố định đạm, phân giải lân và công nghệ sinh học trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: vi sinh vật phân hủy xác bã động-thực vật, vi sinh vật xử lý nước thải,…
Một số kết quả trong 6 tháng đầu năm 2011:
- Trung tâm Nghiên Cứu thuộc Ban Quản lý Khu đã xây dựng cơ sở vật chất để thực hiện các mô hình hoa lan, các loại rau (Đối tượng: rau cải, rau muống, dưa lê, dưa leo, cà chua….) nhưng chưa đánh giá về mặt hiệu quả kinh tế. Thực hiện chương trình cây giống, con giống theo chủ trương của thành phố với các giống lan, giống chuối, giống cá,.. Một số giống đang đi vào hoạt động sản xuất và cung cấp thành phẩm ra ngoài thị trường.
- Khu thực nghiệm đã xây dựng các mô hình trồng lan như Mokara, Dendrobium, Lan rừng, Vũ nữ hoàng hậu... Sản xuất được 11.700 hoa lan Mokara cắt cành đạt số lượng cao hơn kế hoạch là 10.000 cành trong năm 2011, doanh thu trên 50 triệu đồng; bên cạnh đó, sản xuất được 1.150 cây hoa lan Dendrobium và 2.750 cây hoa lan hậu nuôi cấy mô.
- Sản phẩm của các nhà đầu tư thứ cấp cung cấp cho thị trường trong 6 tháng đầu năm 2011 là 18,5/36,883 tấn hạt giống các loại, 655 lít chế phẩm sinh học và 29/800 tấn thành phẩm doanh thu đạt hơn 17,4 tỷ đồng/33,359 tỷ đồng, thực hiện nghĩa vụ tài chính với nhà nước là 739 triệu đồng/2,3 tỷ đồng.
2.6. Tổng hợp các nghiên cứu và ứng dụng CNSH dựa trên các báo cáo tham gia Hội nghị CNSH toàn quốc khu vực phía Nam lần 2 – năm 2011
Hội nghị Công nghệ Sinh học Toàn quốc khu vực phía Nam lần II năm 2011 đã thu hút được sự quan của nhiều nhà khoa học không chỉ ở khu vực miền Nam mà cả các nhà khoa học ở miền Bắc với hơn 230 báo cáo được gửi về tham gia Hội nghị. Dựa trên nội dung khoa học, các báo cáo được phân chia thành 9 tiểu ban thể hiện 9 lĩnh vực công nghệ sinh học đang được quan tâm nghiên cứu:
- Sinh học Phân tử Thực vật
- Công nghệ Mô và Tế bào Thực vật
- Công nghệ Vi sinh
- Công nghệ Sinh học Y dược
- Công nghệ Sinh hóa – Hợp chất thứ cấp
- CNSH Động vật
- Công nghệ Môi trường – Năng lượng Sinh học – Vật liệu Sinh học
- CNSH Thủy sản
- CNSH Thực phẩm
Trong đó, lĩnh vực CNSH Thực vật là lĩnh vực đang được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất hiện nay với 75 báo cáo tham gia. Các báo cáo thuộc lĩnh vực này được chia thành 2 tiểu ban là tiểu ban Sinh học Phân tử Thực vật và tiểu ban Công nghệ Mô và Tế bào Thực vật.
2.6.1. Tiểu ban sinh học phân tử thực vật
Tiểu ban này có 36 báo cáo. Lần này số báo cáo về công nghệ tế bào giảm và thay vào bằng nhiều báo cáo có liên quan đến lĩnh vực genomics và chức năng genomics (functional genomics). Đây là tín hiệu đáng mừng về sự phát triển của công nghệ sinh học trong lĩnh vực thực vật.
Những hoạt động biểu thị rõ nhất trong bảo tồn quỹ gen và phân tích đa dạng di truyền như một nội dung mang tính quyết định trong sinh học. Nhiều mô phỏng toán đã được áp dụng tiếp cận với trình độ thế giới. Gen mục tiêu từ loài lúa hoang được du nhập thành công vào lúa trồng thông qua kỹ thuật cứu sống phôi mầm (embryo rescue) tạo ra giống lúa chống chịu stress phi sinh học và sinh học.
Dòng hóa gen mục tiêu nhờ BAC clone được thực hiện trên các gen điều khiển tính kháng (chống chịu) với stress: đã cho thấy có sự phát triển cao hơn thay vì chỉ dừng lại ở mức độ MAS (chọn giống bằng chỉ thị phân tử). Chọn giống nhờ chỉ thị phân tử đã được ứng dụng kể từ 1995 với chỉ thị dựa trên PCR như RAPD, AFLP, STS, microsatellite nhằm xét nghiệm sự có mặt của gen mục tiêu trong bố mẹ và con lai đang phân ly. Kỹ thuật "fine mapping" là chìa khóa trong chiến lược chọn lọc một cách thận trọng các kiểu gen mong muốn chính xác.
Phân tích QTL (quantitative trait loci) các tính trạng số lượng như chống chịu stress phi sinh học đã được vận dụng khá thành công. Tuy nhiên, tương tác GxE được tính toán trong phân tích QTL các tính trạng chống chịu với stress phi sinh học, vẫn còn là thách thức lớn cho nhà chọn giống.
Điều đáng mừng là rất nhiều nghiên cứu về chuyển nạp gen, tạo ra được cây transgenic (12 báo cáo, chiếm hơn 30% số đề tài khoa học) trong điều kiện thí nghiệm tại Việt Nam. Việc chuyển nạp gen mục tiêu vào cây trồng thông qua Agrobacterium đã được tiếp cận rất sớm. Tuy nhiên nhiều báo cáo chỉ dừng ở mức thiết kế thành công vector hoặc thể hiện gen ở mức tin cậy thấp và thiếu hẳn nội dung khảo nghiệm ngoài đồng và các nghiên cứu về dòng chảy của gen (gene flow).
Các kết quả nghiên cứu này chứng tỏ rằng Việt Nam hoàn toàn có khả năng tiếp cận với genome học hiện đại, trên cơ sở hợp tác thật sự và được đầu tư đúng mức. Cái thiếu lớn nhất của Việt Nam hiện nay không phải là chiến lược mà là chính sách khuyến khích và thời biểu hành động (agenda). Các tính trạng chống chịu sâu bệnh với gen kháng bền vững, các tính trạng chống chịu stress phi sinh học như khô hạn, vốn rất phức tạp khi đánh giá kiểu hình, người ta vẫn có thể tìm được giải pháp tốt, khi biết sử dụng thông thạo kho dữ liệu các chuỗi trình tự loài sinh vật của thế giới thông qua phương tiện tin sinh học.
2.6.2. Tiểu ban Công nghệ Mô và Tế bào Thực vật
Tiểu ban này có 39 báo cáo với các chủ đề nghiên cứu theo các hướng:
- Kỹ thuật nuôi cấy mô phôi kết hợp đột biến cho tạo giống thực vật: mặc dù còn ít nghiên cứu và kết quả còn khiêm tốn, việc kết hợp kỹ thuật nuôi cấy mô – phôi và tạo đột biết qua chiếu xạ cho phép tạo được nguồn vật liệu mới cho chọn lọc giống cây trồng có đặc tính mới.
- Kỹ thuật nuôi cấy mô phôi, mô đỉnh sinh trưởng cho nhân giống cây trồng nông nghiệp và cây hoa kiểng:đây là hướng đang được tâp trung nghiên cứu và phát triển tại các phòng thí nghiệm sinh học.
- Kỹ thuật nuôi cấy mô phôi, mô đỉnh sinh trưởng cho nhân giống cây dược liệu:quy trình nhân giống in vitro cây dược liệu bản địa và nuôi cấy tạo sinh khối cho ly trích các hoạt chất sinh học đã được chú ý.
- Kỹ thuật nuôi cấy sinh khối tế bào nhằm thu nhận hoặc kích hoạt các hợp chất thứ cấp có hoạt tính sinh học: công nghệ nuôi cấy tạo sinh khối tế bào cho sản xuất số lượng lớn hợp chất sinh học được chú ý nghiên cứu.
Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào hoàn thành quy trình nuôi cấy tạo cây hoàn chỉnh trong ống nghiệm, thiết lập quy trình nuôi sinh khối và xác định hợp chất thứ cấp hình thành. Chưa đánh giá kết quả sau ống nghiệm hay trong thực tế đồng ruộng của các nguồn cây giống được tạo ra qua công nghệ nuôi cấy mô-phôi, vì vậy chưa chứng minh được hiệu quả kinh tế do kỹ thuật mang lại cho người trồng trọt. Công nghệ sinh khối tế bào cho sản xuất các hợp chất sinh học có dược tính cũng mới ở quy mô thí nghiệm chưa đi sâu vào thực nghiệm sản xuất.Công nghệ nuôi cấy mô cho tạo nguồn vật liệu mới trong tạo giống chưa được chú trọng ngoại trừ một số ít nghiên cứu liên quan đột biến.
2.6.3. Tiểu ban Công nghệ Vi sinh
Tiểu ban này có 45 báo cáo, tập trung nghiên cứu các vấn đề chính như sau:
- Ứng dụng vi sinh vật trong nông nghiệp: các nghiên cứu có xu hướng tìm kiếm và tạo ra các dòng vi sinh vật hữu ích cho cây trồng trong việc bảo vệ cây trồng khỏi sự tấn công của nấm bệnh và đồng thời làm hạn chế sử dụng phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật góp phần giảm chi phí sản xuất cũng như bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng nhằm hướng đến mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam.
- Tạo ra và ứng dụng các dòng vi sinh vật để sản xuất các protein, enzyme, các chất biến dưỡng thứ cấp: dây là một hướng nghiên cứu nổi bật khác trong lĩnh vực công nghệ vi sinh nhằm tạo ra các chủng giống vi sinh vật được tăng cường khả năng sản xuất các protein, enzyme, các chất biến dưỡng thứ cấp khác hoặc cải thiện các đặc tính mong muốn khác. Mặc dù số lượng báo cáo chưa nhiều, những kết quả đạt được hiện nay cho thấy một xu hướng nghiên cứu đang định hình đó là ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử, kỹ thuật gây đột biến gene để tạo ra các dòng vi sinh vật có khả năng sản xuất các chất biến dưỡng thứ cấp có hoạt tính sinh học với năng suất cao.
2.6.4. Tiểu ban Công nghệ Sinh học Y Dược
Tiểu ban này có 30 báo cáo các tác giả Việt Nam và một số đồng tác giả nước ngoài, có thể được chia thành 4 hướng chính:
- Nghiên cứu cơ chế và hỗ trợ điều trị ung thư;
- Biểu hiện và thử nghiệm sản xuất protein tái tổ hợp có dược tính;
- Ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử trong xét nghiệm các tác nhân gây bệnh;
- Khảo sát hoạt tính và hiệu quả điều trị của một số protein tổng hợp hoặc dược phẩm trên mô hình tế bào hay động vật.
Các báo cáo này phản ánh mối quan tâm lớn và tiềm năng của các nhóm nghiên cứu trong ứng dụng công nghệ sinh học để tạo ra những công cụ chẩn đoán bệnh và sản xuất các chế phẩm điều trị thay thế thuốc ngoại nhập.
2.6.5. Tiểu ban Công nghệ Sinh hóa và Hợp chất thứ cấp
Tiểu ban này có 23 báo cáo, giới thiệu kết quả nghiên cứu thực nghiệm về chiết tách, tinh sạch và khảo sát hoạt tính sinh học của 3 loại hợp chất: enzym, tinh dầu và các hợp chất thứ cấp khác từ phụ phế phẩm công nghiệp giết mổ động vật, vi sinh vật, thực vật nuôi cấy mô và rong biển.
Kết quả các báo cáo cho thấy:
- Các nghiên cứu đã định hướng vào các đối tượng có thể trở thành nguồn nguyên liệu có thể khai thác tốt ở nước ta như: gan cá basa, tụy heo, rong biển v.v…
- Phát hiện được các hợp chất sinh học có khả năng ứng dụng trong điều trị, trong sản xuất thực phẩm chức năng, mỹ phẩm … nhờ chúng có hoạt tính kháng khuẩn, kháng oxy.
- Đáng chú ý là loại lectin mới từ rong biển có phân tử lượng nhỏ, bền nhiệt và có ái lực mạnh đối với các glycoprotein bề mặt tế bào, đặc biệt là các tế bào ung thư và vỏ virút; chất phlorotanin từ rong nâu có phổ kháng khuẩn rộng đối với các vi khuẩn kiểm định gam (-) và gam (+); chitooligosaccharid (COS) và chất bán tổng hợp từ nó là 4-Methyl- benzylchitooligosaccharid (MBCOS) có khả năng kháng oxy hoá mạnh, đặc biệt là kháng gốc hydroxyl tự do. Do đó có khả năng ứng dụng tốt trong bảo quản thực phẩm.
2.6.6. Tiểu ban CNSH Động vật
Tiểu ban này có 21 báo cáo với các hướng nghiên cứu chính như sau:
- Nghiên cứu cải thiện quy trình thụ tinh ống nghiệm nhằm tăng hiệu quả tạo phôi in vitro trên các đối tượng bò, chó, heo.
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học, sinh học phân tử để phát hiện các tác nhân gây bệnh ở vật nuôi. Đáng chú ý là có nhiều nghiên cứu tập trung vào việc phát hiện và định tuýp virus gây hội chứng heo tai xanh (PRRSV).
- Nghiên cứu phát hiện và điều tra dịch tễ về các tác nhân gây bệnh có thể lây lan từ động vật sang người như sán lá ruột lớn (Fasciolopsis buski lankester) và vi khuẩn gây bệnh viêm màng não mủ Streptoccocus suis.
- Bước đầu nghiên cứu về công nghệ tế bào gốc trên đối tượng động vật, tạo chuột khảm và tiếp cận kỹ thuật nhân bản vô tính ở heo.
- Dùng kỹ thuật sinh học phân tử để xác định phát sinh loài (heo rừng Lâm đồng), định danh ong mật phục vụ lai tạo giống và xác định bệnh di truyền ở bò (gene blad trên bò sữa).
2.6.7. Tiểu ban Công nghệ Môi trường – Năng lượng Sinh học – Vật liệu Sinh học
Tiểu ban này có 17 báo cáo. Trong đó, phát triển năng lượng sinh học là vấn đề đang được quan tâm lớn trên thế giới. Lĩnh vực Năng lượng sinh học có 8 bài báo cáo, bước đầu thể hiện sự quan tâm phát triển hướng nghiên cứu quan trọng này ở Việt Nam: có 6/8 bài báo cáo liên quan đến sản xuất cồn sinh học: phát triển các quy trình tạo cồn sinh học từ các nguồn nguyên liệu khác nhau như rong lục, rong biển, bã mía; bước đầu biểu hiện các enzyme sử dụng trong thủy phân cellulose hướng đến tạo cồn sinh học; tạo butanol sinh học từ bã mía. Trong lĩnh vực Vật liệu Sinh học, các báo cáo quan tâm đến việc cố định enzyme, protein trên các vật mang vô cơ/alginate, nano, cố định nấm men trên vật liệu rễ bần, sử dụng tia xạ để tạo oligopectin và hydrogel ứng dụng trong nông nghiệp.
2.6.8. Tiểu ban CNSH Thủy sản
Tiểu ban này có 10 báo cáo liên quan đến các nghiên cứu phát triển vaccine phòng bệnh ở thủy sản (vaccine ngừa bệnh gan thận mủ, vaccine ngừa bệnh nhiễm khuẩn huyết cho cá tra, vaccine ngừa bệnh do Vibrio trên cá mú chấm cam), các loại kit chẩn đoán bệnh thủy sản, các nghiên cứu cơ bản liên quan đến biến động di truyền quần thể cá ngựa đen phục vụ cho công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản, nghiên cứu đặc điểm sinh học của Edwardsiella ictaluri gây bệnh gan thận mủ trên cá tra.
Mặc dù số lượng bài báo cáo trong tiểu ban Công nghệ sinh học Thủy sản không nhiều nhưng các kết quả đạt được đã cho thấy sự ứng dụng mạnh mẽ và rộng khắp của kỹ thuật công nghệ sinh học trong nghiên cứu thủy sản và sự phát triển không ngừng của ngành Thủy sản Việt Nam.
2.6.9. Tiểu ban CNSH Thực phẩm
Tiểu ban này có 15 báo cáo có thể được chia thành 2 hướng chính: nghiên cứu quy trình sản xuất thức uống từ trái cây và nghiên cứu cải tiến quy trình sản xuất thực phẩm lên men truyền.
Các báo cáo tham gia Hội nghị Công nghệ Sinh học Toàn quốc khu vực phía Nam lần II năm 2011 cho thấy Việt Nam đã hoàn toàn tiếp cận với CNSH học hiện đại và đã thu được những kết quả có giá trị khoa học và tiềm năng ứng dụng tốt, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp - thủy sản. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều các nghiên cưú mới chỉ dừng ở quy mô thí nghiệm, chưa đánh giá kết quả sau ống nghiệm hay trong thực tế, vì vậy chưa chứng minh được hiệu quả kinh tế - xã hội. Cần phải nhìn nhận một thực tế là so với các nước trong khu vực và trên thế giới, CNSH Việt Nam còn đi sau một khoảng cách khá xa trong việc tạo các sản phẩm CNSH có giá trị thực tiễn và đem lại nguồn doanh thu lớn.
3. Đánh giá
3.1. Thành tựu
Ngành CNSH thành phố trong giai đoạn từ năm 2006 đến nay đã có những tiến bộ đáng kể, được đầu tư phát triển, nâng cao tiềm lực về KH&CN, đặc biệt về cơ sở vật chất, đã có các đơn vị nghiên cưú được trang bị những phương tiện hiện đại không kém các phòng thí nghiệm ở nước ngoài;
Các đề tài nghiên cứu, các dự án thử nghiệm đã tiếp cận được các công nghệ nền của CNSH (công nghệ gen, công nghệ enzym-protein, công nghệ vi sinh, công nghệ tế bào, công nghệ nano sinh học), đồng thời ứng dụng và phát triển các công nghệ nền của CNSH tạo ra các sản phẩm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, có khả năng cạnh tranh với sản phẩm của nước ngoài. Đặc biệt đối với lĩnh vực nông nghiệp, nhiều đề tài nghiên cứu có tính ứng dụng cao phục vụ các Chương trình trọng điểm của thành phố và khu vực (hoa, cây kiểng; rau an toàn; nuôi trồng thủy sản: tôm, cá tra.. ). Một số sản phẩm của công nghệ vi sinh, công nghệ gen đã và đang xúc tiến thương mại hóa.
Bước đầu tạo ra một số sản phẩm CNSH có hàm lượng công nghệ khá cao như vắc xin cho thú y, các bộ kit xét nghiệm đặc hiệu vi khuẩn, virút gây bệnh trên người, vật nuôi, trên cơ sở này góp phần hình thành một số công ty CNSH tại thành phố.
3.2. Hạn chế
Trong giai đoạn vừa qua, ngành CNSH thành phố cũng bắt đầu chịu tác động của hội nhập quốc tế, nhưng thành quả của nó còn ở mức sơ khai, chưa tạo giá trị kinh tế thực thụ. Nằm trong các chương trình trọng điểm đã được thành phố xác định nhưng việc triển khai ứng dụng CNSH đến các thành phần kinh tế - xã hội chưa được coi trọng. Rào cản lớn nhất chính là năng lực quản lý, năng lực tổ chức sản xuất, thương mại hóa còn nhiều hạn chế; khả năng đầu tư còn rất khiêm tốn và dàn trải.
Số lượng đề tài nghiên cưú xuất phát từ nhu cầu xã hội đặt hàng và đầu tư còn rất ít, phần lớn là do các nhà khoa học tự đề xuất và đăng ký thực hiện. Do đó tỷ lệ đề tài sau nghiệm thu được ứng thực tế sản xuất thấp.
Bên cạnh đó, chưa có chính sách khuyến khích hoạt động triển khai ứng dụng, các đơn vị nghiên cứu triển khai khá phân tán, chưa gắn kết nên chưa phát huy thế mạnh hợp tác nghiên cứu. Năng lực nghiên cứu triển khai còn hạn chế cả về mức độ và quy mô của các công trình nghiên cứu thử nghiệm, các nghiên cưú mới chỉ dừng ở quy mô thí nghiệm, rất ít các hướng nghiên cứu